Tuyển sinh 2021
Tuyển sinh 2021

Yêu cầu về năng lực nghiệp vụ của giảng viên ở các trường Cao đẳng Sư phạm miền núi - Ninh Văn Hưng

Trường sư phạm, khoa sư phạm là cỗ “máy cái” trong đào tạo giáo viên, bởi lẽ ở đó thực hiện chức năng đào tạo và bồi dưỡng, phát triển năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Việc phát triển năng lực nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ nhà giáo đã được các trường, cơ sở đào tạo giáo viên quan tâm, tuy vậy vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học (ĐH)”, “… một bộ phận nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết…”.  Nghị quyết cũng nhấn mạnh giải pháp đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học, trong đó có nội dung “Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm”. Một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Nghị quyết số 44/NQ - CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW là: “Xây dựng và triển khai chương trình bồi dưỡng giảng viên, giảng viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục ĐH đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề”.
Trên tinh thần đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai kế hoạch số 419/KH-BGD&ĐT ngày 05/6/2014 về việc tổ chức “Hội thảo năng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ giảng viên các cơ sở đào tạo giáo viên” nhằm đưa ra những định hướng, giải pháp nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các cơ sở đào tạo giáo viên. Các chuyên gia nhận định rằng: Muốn thực hiện tốt công việc của mình, giảng viên sư phạm cần có năng lực chuyên môn và năng lực nghiệp vụ. Năng lực chuyên môn thường được đánh giá bằng học vị mà mỗi giảng viên đạt được trong quá trình đào tạo và tự học, tự nghiên cứu. Mỗi giảng viên cần nắm vững tri thức chuyên ngành và đặc biệt là cập nhật xu hướng phát triển của khoa học bộ môn mà họ phụ trách. Do vậy, chất lượng của bài giảng phụ thuộc phần lớn vào năng lực nghiệp vụ mà năng lực ấy phải được trau dồi thường xuyên trong quá trình hành nghề, trước yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Nhiệm vụ của giảng viên sư phạm khác xa với nhiệm vụ của giáo viên ở trường phổ thông bởi lẽ họ ở vị trí “máy cái” đào tạo ra những “máy con”, mối quan hệ giữa năng lực của giảng viên và sinh viên sư phạm là “mối quan hệ nhân quả”.
Trước những thách thức của nền giáo dục hiện đại  và những yêu cầu đối với giảng viên giảng dạy ở các cơ sở đào tạo giáo viên đặc biệt là thực hiện tốt Nghị quyết 29- NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chúng tôi nhận thấy cần phải trang bị và bồi dưỡng cho giảng viên sư phạm một số năng lực nghiệp vụ nhất định. Giảng viên ở các trường cao đẳng sư phạm (CĐSP) miền núi có những đặc thù riêng, cần đảm bảo những yêu cầu sau:
1. Năng lực dạy học
Năng lực dạy học là  một trong những năng lực “trụ cột” của người giáo viên nhất là giảng viên sư phạm. Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật, sự bùng nổ thông tin, sự nhanh nhạy của sinh viên và những yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi giảng viên phải đưa sinh viên ở vị trí của người phát minh. Theo lý thuyết thông tin và lý thuyết kiến tạo, giảng viên phải tạo điều kiện cho sinh viên được học thông qua hoạt động đặc biệt là hoạt động thực tiễn, tạo cơ hội cho sinh viên được bày tỏ và thể hiện khả năng của mình. Để thực hiện được hoạt động dạy học, bên cạnh năng lực tri thức chuyên môn khoa học, giảng viên cần có năng lực nghiệp vụ dạy học. Năng lực này bao gồm:
- Nghiên cứu tài liệu và thiết kế bài học: Lựa chọn tài liệu liên quan đến bộ môn mà người giảng viên phụ trách, không chỉ những tài liệu trong nước mà cả tài liệu của quốc tế; thiết kế kế hoạch bài học làm thế nào để tăng cường hướng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Vì vậy, việc thiết kế bài học phải được xuất phát từ việc xây dựng các mục tiêu và hoạt động học tập, làm thế nào để sinh viên được suy nghĩ nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn, làm việc nhiều hơn và thực hành nhiều hơn, hướng tới việc hình thành kỹ năng và thái độ đúng đắn đối với hoạt động học tập của từng bài học cụ thể.
- Năng lực nắm vững kỹ thuật dạy học: Thể hiện khả năng sử dụng các phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học đặc biệt là việc sử dụng các kỹ thuật, thủ thuật dạy học tích cực. Các phương pháp dạy học hiện nay cần được áp dụng như: Học theo dự án (project based learning), học theo hợp đồng (learning contract), thảo luận (work shop), hồ sơ học tập (pofolio), đặc biệt là phương pháp tư vấn, hỗ trợ học tập (counseling, academic support). Bên cạnh đó, giảng viên sử dụng tốt các kỹ thuật và thủ thuật dạy học như: sử dụng sơ đồ tư duy, dạy học luân phiên, bể cá, động não…
- Hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học. Thể hiện ở năng lực tư vấn cho sinh viên lựa chọn vấn đề nghiên cứu; cố vấn, hỗ trợ sinh viên xây dựng kế hoạch, triển khai, thực hiện nghiên cứu và đánh giá sản phẩm nghiên cứu khoa học; Tạo điều kiện để sinh viên được khám phá nội dung và phương pháp chiếm lĩnh nội dung học tập, giúp sinh viên có động cơ học tập, thực hành nghề nghiệp tích cực, sáng tạo và hiệu quả.
- Đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Đa dạng hóa phương pháp đánh giá kết quả học tập như: trắc nghiệm khách quan, tự luận, tự luận được sử dụng tài liệu, báo báo sản phẩm, hồ sơ học tập; Tăng cường khả năng tư duy lôgic, tư duy phê phán; năng lực trình bày và phát triển ý tưởng sáng tạo; năng lực cập nhật kiến thức ở sinh viên; Tiếp cận đánh giá năng lực của người học, năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc; Tăng cường rèn khả năng tự đánh giá cho sinh viên. Muốn vậy, giảng viên sư phạm phải có kỹ năng xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn, bộ công cụ đánh giá kiến thức và kỹ năng thực hành nghề nghiệp của sinh viên theo từng chuyên ngành đào tạo.
- Ứng dụng công nghệ thông tin và quản lý hồ sơ dạy học. Công nghệ thông tin là phương tiện hữu hiệu giúp giảng viên cập nhật, thiết kế, trình bày và lưu giữ thông tin trong quá trình dạy học. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin thể hiện ở khả năng khai thác tối ưu hiệu quả mà công nghệ thông tin đem lại. Hiện nay có rất nhiều phần mềm, Website hỗ trợ công tác giảng dạy và quản lý. Giảng viên có thể sử dụng hàng ngày, hàng giờ mang lại hiệu quả kinh tế cao, rút ngắn khoảng cách giữa giảng viên và sinh viên, tạo điều kiện dạy học mọi lúc, mọi nơi, giảm thiểu thời gian lên lớp của giảng viên, tăng cường việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
-  Năng lực phản hồi mang tính xây dựng. Đây là năng lực quan trọng giúp giảng viên có khả năng tự nhận xét, đánh giá bài giảng của mình hoặc của sinh viên.  Để có kỹ năng phản hồi, giảng viên cần có sự hiểu biết sâu rộng về khoa học mình phụ trách, kiến thức về nghiệp vụ sư phạm, đặc biệt có thái độ nghiêm túc nhưng chân thành trong quá trình nhận xét, đánh giá giờ giảng, làm thế nào để người đánh giá và người được đánh giá cảm thấy thoải mái, hài lòng, phát triển năng lực dạy học.
2. Năng lực thực hành nghề nghiệp
Đây là một trong những năng lực quan trọng của giảng viên sư phạm, ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng đào tạo của mỗi nhà trường, gắn liền giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng, tránh hiện tượng phải đào tạo lại sau khi sinh viên tốt nghiệp. Giảng viên không chỉ đảm nhiệm tổ chức, điều khiển, hướng dẫn sinh viên lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp mà quan trọng hơn là tạo ra “bức tranh sinh động” và cảm hứng thực hành nghề nghiệp. Để làm được điều đó, giảng viên phải hiểu rõ thực tiễn giáo dục, nhu cầu mà các trường phổ thông mong đợi để nghiên cứu và hướng dẫn sinh viên thực hiện các tiết giảng tránh sự “lệch pha” giữa cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng; Đồng thời nghiên cứu các hướng mới về thực hành nghề nghiệp, vừa thể hiện tiếp cận phổ thông vừa thể hiện xu hướng đi trước, đón đầu đổi mới của giáo dục phổ thông. Mỗi giảng viên trường CĐSP đặc biệt là giảng viên giảng dạy phương pháp bộ môn phải là một người giáo viên giỏi ở trường phổ thông. Để làm được điều đó, giảng viên sư phạm phải tăng cường đi thực tế phổ thông, tăng cường dự giờ, sinh hoạt chuyên môn, hội thảo, tư vấn và thực hành nghề nghiệp tại trường phổ thông. Tránh sự “xa lạ”, “khoảng cách” giữa giáo dục giữa trường CĐSP và trường phổ thông.
Bên cạnh đó, giảng viên phải có kiến thức và kỹ năng giáo dục tư vấn tâm lý, nghề nghiệp cho học sinh phổ thông đặc biệt là phương pháp học tập, xử lý các tình huống linh hoạt trong cuộc sống (kỹ năng sống), tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện cho học sinh. Giảng viên phải có kiến thức hiểu biết sâu rộng về những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống thực tại, những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của học sinh, tháo gỡ khi học sinh gặp khó khăn. Vì vậy, giảng viên phải trở thành những chuyên gia tâm lý học đường, đồng thời là người hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên trở thành những chuyên gia tâm lý học đường trong tương lai.
Giảng viên sư phạm cần nghiên cứu và phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học cho các trường phổ thông đặc biệt là nội dung và phương pháp giáo dục, tạo được sự đồng thuận và hiệu quả, tránh sự “tụt hậu” và sự “rượt đuổi” của các trường sư phạm so với trường phổ thông. Để thực hiện được điều đó, giảng viên sư phạm (giảng viên phương pháp bộ môn) cần được mở rộng về không gian và thời gian làm việc tại các trường phổ thông, gạt bỏ được hàng rào thủ tục hành chính rườm rà, cứng nhắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất trong việc cập nhật thực tế phổ thông.
3. Năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện
Cùng với việc “dạy chữ”,  “dạy nghề” thì giảng viên sư phạm còn hướng tới việc “dạy người” cho sinh viên, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia vào các hoạt động đa dạng, hướng tới cách tiếp cận định hướng phát triển năng lực. Mỗi giảng viên sư phạm không chỉ thực hiện tốt công tác dạy học mà còn phát triển năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục đặc biệt là giảng viên các trường sư phạm miền núi. Hầu hết sinh viên được xuất thân từ con em gia đình nông dân, từ vùng sâu, vùng xa nên khả năng ngôn ngữ còn hạn chế, ngại giao tiếp, thiếu kiến thức thực tiễn cuộc sống. Do vậy, các trường CĐSP cần tăng cường tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tăng cường các giờ sinh hoạt lớp, đảm bảo mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình. Giáo viên chủ nhiệm tổ chức các chuyên đề giáo dục: như dạy các bài hát ca ngợi Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghề dạy học; nios chuyện chuyên đề về giáo dục về sức khỏe sinh sản, tình yêu, đạo đức nghề nghiệp, định hướng giá trị….Đặc biệt là tổ chức cho sinh viên các buổi tập huấn hoặc nói chuyện chuyên đề về kỹ năng sống như: làm việc nhóm; giao tiếp và lắng nghe;  tự học, tự nghiên cứu hiệu quả; tư duy lôgic; giải quyết tình hống có vấn đề; quản lý thời gian; thay đổi bản thân... Đoàn thanh niên (chi đoàn cán bộ giáo viên) tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cán bộ ở cấp chi đoàn, tổ chức nhiều sân chơi bổ ích như câu lạc bộ ngoại ngữ; cuộc thi The Voice; câu lạc bộ thể thao; Rung chuông vàng; phong trào xây dựng trường học xanh, sạch, đẹp; giảng đường - ký túc xá văn minh. Tổ chức các hoạt động tình nguyện cho sinh viên đến các vùng sâu, vùng xa, ngày chủ nhật xanh, giúp đỡ những người nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, phong trào sinh viên giúp đỡ sinh viên… giúp sinh viên được trải nghiệm và rèn kỹ năng sống cho bản thân. Nhiều sinh viên nhút nhát, hạn chế về khả năng ngôn ngữ và các hoạt động xã hội có được những chuyển biến tích cực, đáp ứng được yêu cầu của nghề dạy học.
Để thực hiện được những công việc đó đòi hỏi giảng viên phải có năng lực tìm hiểu thực tiễn, xây dựng kế hoạch, tổ chức và triển khai, kiểm tra - đánh giá và điều chỉnh các hoạt động giáo dục. Đặc biệt giảng viên phải có năng lực thu hút và điều khiển, tạo cảm hứng cho sinh viên khi tham gia các hoạt động. Đồng thời có năng lực vận động mọi người cùng chung tay, góp sức tham gia các hoạt động một cách hiệu quả.
4. Năng lực xây dựng và phát triển chương trình
Trước những biến đổi của xã hội đặt ra cho giáo dục những yêu cầu và nhiệm vụ mới, đòi hỏi giáo dục phải đi trước và đón đầu sự thay đổi của xã hội, năng lực xây dựng và phát triển chương trình dạy học và giáo dục giúp cho nhà trường thực hiện tốt sứ mạng, khẳng định được thương hiệu và tầm nhìn. Năng lực xây dựng và phát triển chương trình bao gồm: Đề xuất và xây dựng được chương trình chi tiết các học phần mới đáp ứng được yêu cầu của các ngành nghề đào tạo; biện luận được sự cần thiết phải thực hiện các chương trình đó; biên soạn giáo trình, tài liệu cũng như thiết kế đồ dùng, phương tiện cần thiết để phục vụ tốt việc giảng dạy học phần có hiệu quả; xây dựng tiêu chí đánh giá năng lực của sinh viên sau khi thực hiện chương trình. Xây dựng và phát triển chương trình về các lĩnh vực: Chuyên môn khoa học; đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm; giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng sống; tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số….
5. Năng lực phát triển nghề nghiệp
Khi bàn về vai trò của việc phát triển năng lực nghề nghiệp, nhà giáo dục K.D.Usinxki đã viết: “Người thầy giáo còn sống chừng nào còn học, chỉ khi vừa mới ngừng học thôi thì người giáo viên trong họ cũng chết liền”. Nhận thức được điều đó, các trường CĐSP cần quan tâm đến việc phát triển nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên đặc biệt là giảng viên trẻ. Để có năng lực phát triển nghề nghiệp, giảng viên ở các trường CĐSP miền núi phải đảm bảo những năng lực sau:
- Năng lực ngoại ngữ đặc biệt là năng lực sử dụng Tiếng Anh, Tiếng Trung. Đây là năng lực quan trọng trong thời kỳ hội nhập giúp giảng viên có thể tiếp cận dễ dàng và cập nhật nhất với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. Ngoại ngữ giúp giảng viên có khả năng giao tiếp, trau đổi thông tin đặc biệt là dịch thuật các kết quả nghiên cứu khoa học, tài liệu; tăng cường hợp tác quốc tế như gửi sinh viên ra nước ngoài hoặc mời trợ giảng về nhà trường. Đồng thời, ngoại ngữ giúp giảng viên có thể hoàn thiện học vị cũng như nâng ngạch giảng viên, đảm bảo sự chính xác hóa các thuật ngữ khoa học trong mỗi bài giảng, tiến tới giảng dạy các môn khoa học cơ bản bằng ngoại ngữ. Phần lớn các giảng viên ở trường sư phạm miền núi hạn chế về khả năng ngoại ngữ, điều này gây trở ngại lớn trong việc phát triển nghề nghiệp của họ. Vì vậy, các cơ sở đào tạo giáo viên cần có chiến lược phát triển năng lực ngoại ngữ cho giảng viên.
- Năng lực sử dụng tiếng dân tộc (thiểu số). Phần lớn sinh viên các trường CĐSP miền núi là dân tộc thiểu số. Bên cạnh, việc trau dồi khả năng sử dụng Tiếng Việt, ngoại ngữ thì việc sử dụng tiếng dân tộc thiểu số cũng là một trong những năng lực quan trọng của người giáo viên ở các trường sư phạm miền núi. Nhờ có năng lực sử dụng tiếng dân tộc mà rút ngắn khoảng cách giữa giảng viên và sinh viên, hiểu được văn hóa của các dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác dạy học cũng nghiên cứu khoa học về văn hóa, văn học, lịch sử, địa lý địa phương. Đồng thời bảo tồn, duy trì và phát triển được văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập, tạo điều kiện cho giảng viên có thể nghiên cứu, biên soạn chương trình, tài liệu, giáo trình về ngôn ngữ, văn hóa, văn học, lịch sử, địa lý địa phương.
- Năng lực nghiên cứu khoa học. Đây là năng lực quan trọng giúp giảng viên không chỉ hoàn thành nhiệm vụ bắt buộc của người giảng viên mà quan trọng hơn là phát triển năng lực nghề nghiệp. Năng lực nghiên cứu khoa học được thể hiện ở khả năng nghiên cứu ở các loại hình khác nhau như: cơ bản, ứng dụng, dự báo và triển khai trong đó nghiên cứu cơ bản và sư phạm ứng dụng là quan trọng nhất. Bởi vì, nghiên cứu cơ bản giúp giảng viên phát triển được năng lực chuyên môn sâu của khoa học mà họ phụ trách đồng thời thấy được mối quan hệ giữa các khoa học với nhau và tính ứng dụng của nó. Khoa học sư phạm ứng dụng giúp giảng viên phát triển được khả năng sư phạm của bản thân, tiệm cận với sự mới mẻ của các thành tựu sư phạm của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, có thể áp dụng hiệu quả vào Việt Nam.
- Năng lực tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn - nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục. Giảng viên tự bồi dưỡng bằng nhiều con đường khác nhau như: Tự nghiên cứu tài liệu, tham gia hội thảo và tập huấn chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn, dự giờ đồng nghiệp, đi thực tế phổ thông, tham dự các lớp nâng cao trình độ chuyên môn - nghiệp vụ.
- Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục. Đó là năng lực giải quyết các vấn đề mới nảy sinh trong quản lý, dạy học và giáo dục, đặc biệt là trong công tác chủ nhiệm lớp. Trước những chuyển biến của xã hội, đặc điểm tâm lý của sinh viên có những thay đổi, mong muốn, kỳ vọng từ phía xã hội và gia đình đối với nhà trường ngày càng cao, đòi hỏi nhà giáo nói chung và giảng viên sư phạm nói riêng cần linh hoạt và sáng tạo trong việc xử lý các tình huống xảy ra đặc biệt là tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên giải quyết hiệu quả các tình huống nảy sinh trong thực tiễn.
            Tóm lại, để nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên sư phạm nói chung và  các trường  CĐSP miền núi nói riêng, chúng tôi đề xuất với Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo một số ý kiến sau:
            - Tổ chức nhiều hơn nữa các chương trình đào tạo và tập huấn về phương pháp và kỹ năng dạy học có cập nhật quan điểm của một số trường đại học, cao đẳng đào tạo giáo viên tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt tăng cường đầu tư kinh phí để cử các giảng viên đi học tập và nghiên cứu nghiệp vụ sư phạm ở nước ngoài, tăng cường học ngoại ngữ và tiếng dân tộc.
            - Tổ chức khảo sát thường xuyên trình độ và năng lực nghiệp vụ sư phạm của giảng viên không chỉ về mặt nhận thức (kiến thức) mà quan trọng hơn là phương pháp và kỹ năng sư phạm đồng thời ban hành chuẩn nghề nghiệp đối với giảng viên sư phạm.
            - Tăng cường mối quan hệ giữa các trường sư phạm và trường phổ thông bằng cách biệt phái một vài năm giảng viên giảng dạy phương pháp về trường phổ thông và giáo viên phổ thông có trình độ nghiệp vụ vững vàng về trường sư phạm giảng dạy các chuyên đề về phương pháp dạy học và giáo dục.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
 1. Dự án Việt-Bỉ, 2007 - 3 Phương pháp dạy học mới  và các kỹ thuật dạy học -Tài liệu tập huấn giáo viên.
2. Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 BCHTW Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
3. Tạp chí giáo dục số 11/2014. Nâng cao năng lực nghiệp vụ sư phạm.
 
Abstract
 The main reason why the roles of lecturers at Pedagogical Colleges are totally different f-rom that of teachers at lower and up-secondary schools is that these lecturers play the role of “producer”. Facing challenges of modernizing education comprehensively, particularly challenges f-rom completing directions f-rom Resolution No. 29-NQ/TW dated 4th November 2013, teachers in general and Lecturers of Pedagogical Colleges in mountainous areas in particular must meet the demands and requirements related to profession ability and skills as namely as teaching, profession practice, organizing teaching activities comprehensively, profession development and so on. It is true that professional abilities and skills are formed through training and education at Pedagogical Colleges. However, it is noted that each lecturer must continuously improve their knowledge and foster their professional abilities systematically through a wide variety of methods and approaches.
 
                                (Tạp chí Giáo dục số 356, Kì 2 tháng 4/2015)
  Thông tin chi tiết
Tên file:
Yêu cầu về năng lực nghiệp vụ của giảng viên ở các trường Cao đẳng Sư phạm miền núi - Ninh Văn Hưng
Phiên bản:
N/A
Tác giả:
Ninh Văn Hưng
Website hỗ trợ:
N/A
Thuộc chủ đề:
Bài viết - nghiên cứu
Gửi lên:
30/08/2015 21:39
Cập nhật:
30/08/2015 21:39
Người gửi:
admin
Thông tin bản quyền:
N/A
Dung lượng:
78.50 KB
Xem:
1277
Tải về:
9
  Tải về
   Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?
Hãy click vào hình sao để đánh giá File

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Tuyển sinh 2021
Tuyển sinh 2021

Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn

Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn đào tạo, bồi dưỡng và liên kết đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, các ngành kinh tế - kỹ thuật, khoa học tự nhiên - xã hội và nhân văn, văn hóa - nghệ thuật trình độ cử nhân; là cơ sở nghiên cứu, ứng dụng khoa học giáo dục; cung ứng nguồn nhân lực đáp...

Lý lịch khoa học
Lý lịch khoa học
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Array
(
    [type] => 2
    [message] => file_put_contents(/14-04-2026_e4baeb226356bfcb942719a3c6cab64f.log): failed to open stream: Permission denied
    [file] => /var/www/nvlce2016/vendor/vinades/nukeviet/Core/Error.php
    [line] => 593
)