Tuyển sinh 2021
Tuyển sinh 2021

“BIỂN” qua góc nhìn không gian xã hội trong truyện cổ tích Chăm - Đặng Thế Anh


            Người Chăm vốn sinh tụ ở dải đất ven biển miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời. Tạo hóa không ban tặng cho nơi đây thế đất bằng phẳng với những hạ lưu sông và đồng bằng màu mỡ như đồng bằng Châu thổ Sông Hồng, đồng bằng Sông Cửu Long mà chỉ có những con sông ngắn và dốc, những nhánh núi ăn sâu ra biển như những lưỡi dao chia cắt một dải đồng bằng vừa hẹp vừa dài. Nhưng, nhìn một cách tổng quát thì địa bàn này cũng có những thuận lợi riêng: “Đó là vùng đất có không gian xã hội mở trên cơ sở một hệ sinh thái mở về hai phía: Một phía là rừng núi, cao nguyên bao la và một phía là biển cả, hải đảo mênh mông”[1]. Thế nên “Người Sa Huỳnh cổ khôn ngoan đã chọn địa bàn này làm nơi sinh tụ, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của mình, để lại một di sản lớn mà tộc người Chăm được kế thừa trực tiếp và toàn diện cả về lãnh thổ và di sản văn hóa”[2]. Trong đó, di sản văn hóa - văn học dân gian Chăm hết sức phong phú và đa dạng. Điểm mặt, ta thấy hàng ngàn câu tục ngữ, câu đố; hàng trăm truyện cổ; hàng chục bài ca dao, đồng dao... và, truyện cổ tích (TCT) là một thể loại lớn và vô cùng hấp dẫn.
            Cho đến hôm nay, dù ít nhưng những câu truyện cổ tích xa xưa vẫn tiếp tục được kể, được “thưởng thức” như một sở thích chưa bao giờ “cũ” của nhiều người Chăm. Có lẽ vì những truyện kể ấy được kết tinh từ sự nhận thức và trí tưởng tượng hết sức phong phú của cả một dân tộc. Đúng như Inrasara nhận định “từ sự vật trong thiên nhiên đến con người giữa xã hội, từ phong tục tập quán với nghi lễ phiền toái của nó đến sinh hoạt cộng đồng với mọi tính tốt tật xấu của con người, từ nhân vật lịch sử đến các hiện tượng văn hoá, tất cả đều được phản ánh trong kho tàng TCT  Chăm, phản ánh nhân sinh quan và thế giới quan Chăm”[3].
            Tiếp cận từ góc độ không gian xã hội, bài viết sẽ tập trung khai thác và lí giải mối quan hệ giữa người Chăm với không gian biển qua những câu truyện TCT, góp phần làm rõ cơ tầng văn hóa biển của dân tộc Chăm cũng như khẳng định chủ quyền biển của Việt Nam.
            1. Về khái niệm không gian xã hội (KGXH) và KGXH trong TCT Chăm
            Georges Condominas, với công trình “Không gian xã hội vùng Đông Nam Á”, đã kế thừa và đưa ra khái niệm KGXH cũng như một số biểu hiện của nó từ góc nhìn Dân tộc học. Ngay những dòng mở đầu của phần dẫn luận, ông đã trình bày rõ quan điểm khi bàn tới vấn đề lý thuyết: “Chúng tôi không hề bận tâm đến việc canh tân về mặt lý thuyết khi sử dụng thuật ngữ này, mà chỉ có ý định lưu tâm đến động thái của những xã hội mà chúng tôi quan sát”[4]. Để làm rõ vấn đề, ông dẫn ra rất nhiều thí dụ cũng như sự phân tích những dưới góc nhìn khác nhau của một số nhà Xã hội học, Triết học... Từ đó, Georges Condominas định nghĩa “KGXH là không gian được xác định bởi tập hợp các hệ thống quan hệ đặc trưng cho một nhóm người nào đó”[5]. Thuyết phục hơn cả, có lẽ là việc chỉ ra năm khía cạnh và đi vào phân tích những khía cạnh ấy qua các ví dụ cụ thể, sinh động của ông ở phần trình bày kế tiếp của công trình (1- Những mối liên hệ với không gian và thời gian; 2- Những mối quan hệ với môi trường; 3- Những mối quan hệ về trao đổi của cải; 4- Những mối quan hệ về giao tiếp (ngôn ngữ và chữ viết); 5- Những mối quan hệ họ hàng và xóm giềng).
Ở đây, bản thân Georges Condominas chỉ dừng lại miêu tả chính KGXH theo quan niệm, theo cách nhìn của một nhà Dân tộc học. Nghĩa là, ông tìm hiểu xem trong KGXH ấy có những gì đã xảy ra, đời sống vật chất - tinh thần của những cộng đồng, những dân tộc - tộc người diễn biến, vận động theo thời gian, không gian như thế nào? Và cách lý giải của ông về mọi hiện tượng đều đặt dưới góc nhìn Dân tộc học. Còn chúng tôi lại bắt đầu từ văn bản văn học dân gian lần ngược trở lại để tìm xem KGXH đã nảy sinh ra những gì? vận động ra sao? được phản ánh vào trong văn học bằng TCT như thế nào? và đi đến sự lý giải theo những quy chuẩn của thể loại TCT. Qua đó, nhận diện đời sống tâm hồn của chủ thể KGXH ấy cũng chính là tác giả của những chuyện kể ấy.
            Không gian trong TCT là không gian của trí tưởng tượng được tạo bởi một thứ chất liệu đặc biệt - ngôn từ. Do đó, KGXH trong TCT là một không gian khác, không gian thứ hai, không gian mang tính nghệ thuật, không phải phiên bản copy của KGXH thực tại khách quan. Đó là không gian được quy định bởi thứ ngôn từ mang theo đặc trưng của thể loại được dùng để diễn đạt, là không gian được khúc xạ qua sự nhận thức của con người; là không gian mà mỗi con người cảm thấy vừa gần gũi, quen thuộc vừa xa cách, lạ lẫm. Có thể khẳng định: chính ở văn học, cụ thể là trường hợp đang bàn - TCT Chăm, các nhà lí luận có thể dễ dàng tìm thấy những dẫn chứng tuyệt vời cho lý thuyết nói rằng cái không gian thực tại phản ánh trong tác phẩm văn học không nhất thiết phải là cái không gian thực quả đã mở ra như thế hay đang hiện hữu như thế mà có thể là không từng mở ra như trong quá khứ, thực tại hoặc sẽ mở ra trong tương lai, thậm chí nó là không gian của mơ ước, của khát vọng. Nói khác đi, từ KGXH thực tại khách quan chuyển vào KGXH trong TCT, kết quả của nó phụ thuộc vào độ giãn nở của tâm hồn dân tộc, của tâm thức cả cộng đồng. Vì vậy, KGXH trong TCT nói riêng, không gian nghệ thuật nói chung có tính độc lập tương đối.
            Nếu KGXH ngoài thực tế khách quan là không gian được xác định bởi tính phức thể các quan hệ đặc trưng cho một số lượng người thì KGXH trong TCT lại có tác dụng rõ rệt trong việc mô hình hóa các kiểu quan hệ, các phạm trù thời gian, thậm chí mô hình hóa cả các kiểu người... Những trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần trong TCT đều xảy ra trong một thực tại “bất diệt” khác với không gian ngoài đời. Vì thế mà, KGXH trong TCT là một hiện tượng ước lệ (ví dụ: thượng giới, làng, trong nhà, ngoài vườn, địa ngục, biển khơi...), có ý nghĩa cảm xúc và có thể mang tính địa điểm, tính phân giới...
            KGXH trong TCT là sự góp mặt của rất nhiều hình ảnh, có thể là như thật và có thể tri nhận được bằng các giác quan, mà cũng có thể là trừu tượng phải dùng đến sự liên tưởng mới nhận biết được. Nhưng, các hình ảnh ấy vẫn có một ranh giới phân biệt với thế giới vật chất bên ngoài, mặc dù không dễ nhận ra như khung của một bức ảnh hay đường bao quanh một vật hình tròn. Cho nên, KGXH trong TCT thể hiện tính chất của một thế giới tinh thần và phần nào dựng lên bức tranh của không gian thực tại khách quan, cho thấy quan niệm thẩm mĩ về thế giới, chiều sâu nhận thức của con người và cũng là chiều sâu nhận thức bị chi phối bởi đặc trưng thẩm mĩ của thể loại. Nó cung cấp một cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu vấn đề phản ánh thực tại xã hội trong lòng nó.
            Mặc dù quan hệ giữa các loại không gian thuộc hệ thống KGXH trong TCT được hình thành một cách quy ước, được xác định một cách tương đối và tương tác lẫn nhau, song chúng vẫn chia thành những ranh giới giá trị, chẳng hạn như ranh giới khép - mở, ranh giới bên trong - bên ngoài, ranh giới bất biến - khả biến... Do gắn với phương tiện chiếm lĩnh đời sống là ngôn từ, gắn với ý nghĩa và giá trị, KGXH trong TCT trở thành ngôn ngữ, hình ảnh, hình tượng, biểu tượng nghệ thuật. Và, KGXH trong TCT được hiểu là toàn bộ hệ thống các không gian chứa đựng hành động và quan hệ của con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, được xây dựng bằng ngôn từ, một mặt từ trí tưởng tượng của nhân dân, mặt khác chịu sự chi phối bởi đặc trưng của thể loại. Không gian xã hội được coi như một phương thức nghệ thuật đặc biệt phản ánh quan niệm thẩm mĩ về thế giới và con người của TCT. Như vậy, xem xét dấu ấn của biển ở KGXH trong TCT Chăm cũng là xét đến những biểu hiện của người Chăm trong mối quan hệ với môi trường biển.
2. Biển - một không gian “sống” của tâm thức Chăm
            Ai đã từng đi qua “khúc ruột miền trung” hẳn không thể quên được một bờ biển dài chạy dọc lãnh thổ Việt Nam, và từ lâu đời, người Chăm đã định cư ở vùng duyên hải này. Điều đó khiến yếu tố biển in đậm trong đời sống văn hóa Chăm. “Tất cả từ ngôn ngữ đến cuộc đời thường nhật và cả thế giới bên kia đều bảo lưu dấu ấn văn hóa biển. Chính người Chàm chứ không ai khác đã có đóng góp to lớn vào phức thể văn hóa Việt Nam yếu tố văn hóa biển làm cho nền văn hóa Việt Nam có đủ ba yếu tố: núi - đồng bằng - biển”[6].
Trong tâm thức và cả sự tồn tại thực tế, người Chăm rất thân thuộc với môi trường biển. Từ xa xưa, họ đã thạo nghề đi biển và đánh bắt hải sản. Trước biển mênh mông, không có bến bờ mà con người chỉ nhỏ bé cùng chiếc thuyền, cho nên thần biển (Yang Tathik), thần sóng (Po Riyak) luôn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người Chăm.
            Từ góc nhìn ngôn ngữ cùng những câu nói trên cửa miệng người Chăm, Inrasara - một người con của dân tộc Chăm, một nhà thơ, một học giả Chăm đã chỉ ra trong bài viết “Biển trong văn chương Chăm”[7]: “Tiếng Chăm có nhiều từ để chỉ biển. Tathik là biển; bên cạnh tathik, tiếng Chăm còn có darak. Dân gian Chăm nói: Laik tamư tathik praung darak praung nghĩa là chìm vào biển cả. Như vậy, darak vẫn là biển. Darak còn được dùng để chỉ chợ. Nau darak: đi chợ. Bởi chợ ngày trước luôn được họp cạnh bờ biển. Cũng phải thôi, người Chăm là dân sống với biển và nhờ biển, nên chợ lớn phải họp cạnh bờ biển, và lắm lúc ngay trên biển”. Và, khi than vãn “nếu người Việt kêu: trời đất ơi, thì người Chăm: Trời biển ơi (Lingik tathik lơy). Họ kêu trời kêu biển (Ew lingik ew tathik) chứ không phải “la trời la đất” như người Việt. Cũng vậy, người Chăm nói “tối trời tối biển” (Xup lingik xup tathik). khác với người Việt là: [Mưa] tối mù trời đất”. Hoặc, hẹn giờ lên rừng kiếm củi, một không gian tưởng chừng không liên quan tới biển mà họ lại dùng thời điểm thủy triều lên để nói: “Tuk ia tathik đik - Lúc thủy triều lên (khoảng 1 giờ sáng)”. Rồi, để chỉ những người có thói ba hoa, “một tấc lên giời”, người Chăm có thành ngữ “Đom ngauk lingik ngauk tathik - Nói trên trời dưới biển”; để chỉ những lúc bế tắc, không hướng giải quyết người Chăm có lối so sánh: “Wơr glai yuw ralai di krưh tathik - Quẫn trí cùng đường như thân ralai giữa biển khơi”... Quả thực, người Chăm không chỉ sống bên biển, đứng trước biển mà đã hòa vào biển trong các hoạt động sinh tồn của mình.
            Từ góc nhìn lịch sử, một số nhà nghiên cứu cho rằng vương quốc Chăm là một thể chế biển. Bởi lẽ người Chăm và văn hóa Chăm đã thích ứng một cách tài tình với hệ sinh thái từ núi rừng tới biển khơi như tác giả Trần Quốc Vượng đã nhận xét: “người Chăm có cái nhìn về biển đúng đắn, biết cấu trúc một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, tuy còn chất phác, thô sơ nhưng đã biết khai thác mọi tài nguyên trên nguồn rừng, dưới biển khơi... để xuất khẩu, có đội chiến thuyền và thương thuyền đủ lớn, đủ mạnh để ra khơi góp phần xây dựng Champa hưng thịnh một thời”[8].
            Tóm lại, đối với người Chăm, biển vừa là nơi kiếm sống, vừa là nơi trú ngụ, khám phá, chinh phục để phát triển, thậm chí chết cũng là nơi biển rộng, sóng sâu. Biển từ một môi sinh đã trở thành một không gian “sống” của tâm thức Chăm.
3. Dấu ấn của biển qua không gian xã hội trong truyện cổ tích Chăm
            Bất kì nền văn học nào, thể loại văn học nào cũng nảy sinh và vươn lên từ cội rễ hiện thực. Do đó, sự cao đẹp nhất của văn học chính là sự phản ánh cuộc sống ở mọi khía cạnh, mọi góc độ một cách sâu sắc và chân thành. TCT Chăm không phải là trường hợp cá biệt nằm ngoài ý nghĩa đó.        
Thuở hồng hoang, con người chỉ như những đứa trẻ trong chiếc nôi tự nhiên, cuộc sống và suy nghĩ của con người không tách khỏi chiếc nôi đó. Người Chăm cũng tin rằng từ cỏ cây đến chim muông, từ hòn đá đến ngọn núi, từ bọt biển đến đại dương mênh mông... mọi thể chất tự nhiên (trong đó có họ) ở giữa trời đất đều có linh hồn và mỗi thứ đều có vị thần (Yang) riêng: Thần thổ địa (Ppo Bhum), Thần núi (Atuw cơk), Thần biển (Atuw Tathik), Thần tháp (Yang Bimong Yang Kalan)... Chính tín ngưỡng sơ khai này đã bắt đầu tạo nên một lớp trầm tích của văn hóa dân gian để từ đó nuôi dưỡng cho văn học dân gian ra đời, góp phần làm nên sự đa dạng cho thế giới thần trong TCT Chăm: Thần đất (Chàng Dũng sĩ); Thần Thổ địa (Prăm Tịch, Prăm Lăc); Thần gió, Thần nắng, Thần mây, Thần mưa, Thần sức khỏe, Thần công bằng, Thần lười (Chàng Mười và những điều kì lạ); Thần núi, Thần rừng (Chiếc cầu vồng hóa đá, Nì Thà và viên ngọc thần); Thần sóng biển (Thần sóng); Thần sức mạnh (Chiếc chuông thần)... Từ sự liệt kê trên cho thấy phạm vi của không gian cũng như bóng dáng phạm vi không gian hoạt động và không gian mơ ước của người Chăm để lại trong TCT. Từ khoảnh đất định cư với đại diện là vị Thần đất hoặc chui vào lòng đất tìm đến Thần thổ địa...; tiến sâu hơn vào các khu rừng nơi có thần rừng cai quản hoặc gặp các vị thần núi đang ngủ... hay xa hơn ra vùng biển mênh mông sóng nước với sự trợ giúp của Thần sóng biển có được một hành trình bình an hoặc thoát khỏi cái chết khi chẳng may gặp nạn...; cũng có thể, nhờ vào Thần sức mạnh mà người ta vươn lên cao hơn nơi các vị Thần nắng, gió, mây, mưa... đang làm những công việc do bề trên giao phó để nhận được những câu trả lời về cuộc sống muôn hình muôn vẻ dưới trần thế... Tất cả hợp thành bức tranh sống động bao quát cả chiều rộng của KGXH Chăm từ gia đình đến làng đến cung đình, từ biển khơi đến núi rừng, từ mặt đất đến bầu trời. Đó là sự trải rộng ra tận mênh mông chân trời góc bể - nơi không thể thiếu “biển”.
            Khảo sát hơn 100 TCT Chăm, chúng tôi thu được 14 hình ảnh liên quan đến biển: con thuyền, cánh buồm, mảng bè, tấm ván, mái chèo...
TT Hình ảnh Tần suất
Hoạt động đi lại
1 21
2 Buồm 2
3 Con thuyền 2
4 Đò 3
5 Khoang thuyền 2
6 Mái chèo 6
7 Thuyền 77
8 Thuyền độc mộc 1
9 Ván (thuyền) 9
Hoạt động buôn bán
10 Tàu buôn 1
Hoạt động chài lưới
11 Cần câu 3
12 Chài 1
13 Lưới 7
14 Lưỡi câu 1
Tổng 136
 
            Đó là “bộ từ ngữ” thực hiện chức năng in lên mặt giấy những dấu vết về đời sống vật chất của người Chăm, gắn với chức năng làm phương tiện di chuyển đưa các nhân vật TCT Chăm vượt sóng ra biển khơi mênh mông hay ngược xuôi trên dòng sông nhỏ hẹp... đồng thời, biểu hiện không gian sinh sống và nguồn gốc biển của dân tộc Chăm.
Đặc biệt, sự có mặt của các vật dụng trong hoạt động đi lại, buôn bán, chài lưới còn chứng tỏ một điều rằng trên đường “đi đến thế giới mơ ước”, người ta (cả người kể lẫn người nghe hay người đọc đang chìm đắm trong không khí lung linh sắc màu kì ảo của TCT) chẳng hề một phút nào lãng quên đời sống hiện thực hàng ngày. Chính nhờ vậy mà với thế hệ trẻ vùng Chăm ngày nay, TCT Chăm có giá trị như bài học lịch sử, giúp họ hồi cố lại cuộc sống của cha ông thời xưa. TCT Chăm -  “phòng triển lãm” có cả đời sống sinh hoạt tinh thần lần đời sống sinh hoạt vật chất, của những gia đình, dòng họ, làng bản Chăm xa xưa. TCT Chăm - một kho tư liệu lịch sử, dân tộc học thu nhỏ.
Như đã nói ở trên, KGXH trong TCT Chăm là một cấu trúc phức hợp bao gồm nhiều lớp - kiểu/dạng không gian khác nhau, có thể tách biệt một cách tương đối mà cũng có khi chồng xếp lên nhau. Điều này cho thấy KGXH trong TCT Chăm có tính “giãn nở - thu hẹp” đặc thù. Mặc dù, xét về mặt logic thì chẳng có gì ngăn cản hay bắt buộc TCT phải sắp xếp hay tái hiện lại theo “kích cỡ” như thế nhưng TCT lại lựa chọn phương thức này làm một trong những cách để đem lại tính khách quan cho KGXH.
            Trong “Parăm Mưdit, Parăm Mưlăk”, không gian của truyện được nới rộng ra, tất nhiên không phải như một phép cộng bình thường, thêm một, hai hay nhiều không gian nữa, mà mở rộng cái khung cho lớn bằng một không gian mới, có thể là không gian chiến trận, không gian tự nhiên hoặc mở ra vô tận với không gian thiêng thần kì. Tuy vậy, sợi dây nối liển các không gian với nhau vẫn là hành động của nhân vật chứ không phải một thứ gì đó mơ hồ, khó xác định, như chàng Parăm Mưdit phải đến xứ Dêwa là đảo ở giữa đại dương, tìm tới cung điện của Rakbil Thuôr để giải cứu vợ nhưng trước đó chàng đã bị đàn khỉ bắt và tìm mọi cách mới trốn được. Khoảng không gian mà chàng vượt qua tìm đến chỗ vợ chính là không gian tự nhiên - không gian của biển đảo và rừng. Đó chính là sự giãn nở của không gian.
            Trái lại, không gian tự nhiên trong truyện “Thần Sóng” là không gian khép lại - không gian thu hẹp. Chi tiết chàng Eh Wa bị sóng đánh tan bè, bị cá mập ăn và hồn nhập vào cá voi để giúp ngư dân đi biển đưa đến cho chúng tôi một lưu ý rằng biển xuất hiện ở không gian tự nhiên vào cuối truyện như một tín hiệu cho một cái kết không có hậu trong TCT Chăm.
Như thế, trong TCT Chăm, biển ngoài tư cách nâng đỡ, cung cấp nguồn sống cho con người, còn là một thế giới bí hiểm, thù địch, đầy bất trắc. Mặc dù, rất khác so với người Việt - “xa rừng nhạt biển”, Chăm “mở mắt là thấy rừng, thấy biển” nhưng không gian rừng và biển (gắn với gốc văn hóa rừng và biển) lại là không gian của khó khăn, thử thách đối với con người. Chính điều này làm nên những chất liệu văn học đặc biệt, độc đáo của văn học dân gian Chăm.    
            Cũng là KGXH, song bị quy định bởi tính hư cấu - đặc trưng của loại hình nghệ thuật ngôn từ, bị chi phối bởi đặc trưng thi pháp của thể loại TCT nên KGXH trong TCT Chăm nói riêng đều lung linh “màu cổ tích”. Do đó, sự “lệnh pha” trong mối quan hệ giữa không gian bên trong và không gian bên ngoài tác phẩm là điều tất yếu, chính điều này tạo ra tính độc đáo cho KGXH trong TCT nói chung. Đọc vào truyện “Thần Sóng” ta sẽ thấy điều đó:
- “Blốc 1”: Eh Wa ra đi tìm thầy học đạo để giúp làng thoát cảnh lầm than cơ cực.
- “Blốc 2”: Eh Wa qua xứ Ả Rập học đạo - Muốn trở về quê hương nhưng thầy cản vì biết là không tốt - Eh Wa chốn về - Thầy biết và nguyền rủa Eh Wa.  
- “Blốc 3”: Lời nguyền màu nhiệm, Eh Wa chết trên biển.
            Sơ đồ: Làng  g Quốc gia (Ả Rập) g Biển (không gian tự nhiên)
            Ở đây truyện không nói tới kích thước của không gian mà nói tới logic nghệ thuật của truyện kể. Theo logic thông thường các vị thần tự nhiên sẽ là người giữ trách nhiệm trông coi và hành khiển hiện tượng ấy, chẳng hạn như thần mưa, thần nắng sẽ cai quản việc cho mưa, cho nắng xuống dương gian; thần đất, thần núi cai quản từng mảnh đất, ngọn núi... nhưng thần sóng trong TCT Chăm lại không phải là người cai quản, thậm chí không chế ngự được sóng mà còn chết vì sóng. Phải chăng logic của nghệ thuật đã tạo nên “nếp gấp” bí ẩn khiến cho nó trở nên đa dạng, phong phú, nhiều tầng bậc... hay “khớp nối” giữa người Chăm hiện nay với cha ông xưa là “sự hiểu lầm”. Đó vừa là lí do để chúng tôi đưa ra nhiều giả thiết, vừa để đặt hiện tượng này trong tính đảo ngược của KGXH trong TCT Chăm. Theo chúng tôi, đóng góp của hiện tượng này về mặt kết cấu không gian, là ở chỗ mở ra không phải về chiều rộng mà là sự mở ra về bề sâu. Eh Wa, người con yêu của dân tộc, đã được nhân dân chọn làm nhân vật trung tâm trong cuộc hành trình trở về ấy. Nỗi khát khao được về lại miền đất với những người thân luôn đau đáu trong tim chàng. Nỗi nhớ và niềm lo cho nhân dân phủ lên hình tượng người con tha hương một thứ ánh sáng nhân bản dịu dàng và mềm mại. Chuyến vượt biển của Eh Wa với bao nhiêu là trắc trở và cho đến cuối cùng chàng cũng không bao giờ có được giây phút đặt chân lên mảnh đất quê nhà nữa. Sóng biển đã kéo Eh Wa ra tận khơi xa và cá voi đã mang Eh Wa đến mọi vùng nước.
            Hình ảnh của chàng với sóng biển là đại diện cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Cuộc vượt biển chính là cuộc xung đột của con người với chính số phận và khát vọng của mình. Điều đó càng khắc họa rõ rằng con người mãi chỉ là hữu hạn, sóng biển là không gian bất tận của vũ trụ bao la vô hạn. Cái chết của Eh Wa là sự ra đi của một tấm lòng cao cả chưa thực hiện được lí tưởng, chưa hiện thực hóa được ước mơ trở lại quê hương. Và cuối cùng, dù muốn hay không muốn câu truyện vẫn góp phần phát triển “tọa độ” thế giới nghệ thuật, tâm hồn của tác phẩm, mà trước hết là mở rộng và đảo ngược về phía không gian - đối tượng đang chiếm lĩnh. Hơn thế, hiện tượng này càng khẳng định chắc chắn rằng bức tranh ý niệm về thế giới trong ý thức dân gian Chăm được thể hiện qua TCT nói riêng là cái mà ta không thể khảo sát trực tiếp và tuyệt đối được nên chỉ có thể tìm hiểu qua bức tranh ngôn ngữ. Vì vậy, có những chênh lệch là điều đương nhiên.
            Gắn với tín ngưỡng thờ thần biển, thần sóng và tích truyện trên mà người Chăm có nhiều nghi lễ, lễ hội liên quan cũng được tái hiện trong TCT như Lễ Plao Pasah - Lễ cầu đảo “Thần sóng” biển qua hoặc lễ Ngawk Yang Palao Pasăk - lễ tạ thủy qua truyện “Cậu Xoài”... là những lễ liên quan đến việc cầu mưa, cầu nước của người Chăm, được tổ chức cả ở các đền tháp và các cửa biển...
            KGXH trong TCT Chăm không chỉ là tấm gương phản ánh trung thành hiện thực cuộc sống mà còn như một tiếng nói thân cận với tâm hồn Chăm, như người bạn đường hoàn toàn tin cậy để biểu lộ ước mơ của họ. Đó là những ước nguyện và khát vọng chính đáng của con người trước cuộc sống lúc nào cũng đòi hỏi vươn tới sự hoàn thiện. Biển - không gian chứa đựng khát vọng của con người đi vào TCT Chăm qua một lối đặc biệt. Nó chính là những lần vượt qua thử thách của Cơ Rích (Hoa Bơ-nga Chơ-re) trong chuỗi âm mưu nham hiểm của tên vua độc ác, bắt chàng trai phải hết lấy sữa rắn, sữa trăn, sữa gấu, đến phải lấy hoa Chơ-re có trăm nghìn loài cá dữ canh trông ngoài biển Đông... Từ đó còn cho thấy ước mơ của nhân dân lao động về sự chiến thắng các thế lực tàn bạo để bảo vệ con người và cuộc sống bình yên cho chính họ và môi trường nuôi dưỡng ước mơ đó lại chính là biển.
Tóm lại, những hình ảnh, chi tiết kể trên đã trở thành những tín hiệu thẩm mĩ, định vị những vị trí cụ thể của biển trong KGXH của TCT Chăm. Không gian ấy cũng là không gian của sự sống, nơi diễn ra các sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, là nơi gửi gắm và thực hiện những “giấc mộng”, những “ẩn ức” của con người in dấu những quan niệm của thời đại TCT về thế giới, về cuộc sống.
            KGXH trong TCT Chăm không chỉ là sự phản ánh và nhận thức cuộc sống, không chỉ là phương tiện để bảo tồn và truyền đạt những thông tin nhận thức, giá trị ấy mà còn là mô hình độc đáo của sự “nhân đôi” thế giới bằng các hình ảnh, hình tượng về cuộc sống. Ở đó, biển làm nên tính bản địa của văn hóa Chăm; văn hóa của một cư dân Mẫu hệ; văn hóa đậm nét sắc thái tôn giáo...
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:
1. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991), Văn hóa Chăm, Nxb Khoa học Xã hội, H.
2. Nguyễn Mạnh Cường - Nguyễn Minh Ngọc (2002), Người Chăm (Những nghiên cứu bước đầu), Nxb Khoa học Xã hội, H.
3. Ngô Văn Doanh (1994), Văn hóa Chăm Pa, Nxb Văn hóa Thông tin, H.
4. Nguyễn Duy Hinh (2010), Người Chăm xưa và nay, Nxb Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa, H.
5. Inrasara (2008), Văn hóa - Xã hội Chăm nghiên cứu và đối thoại, Nxb Văn học, H.
6. Sakaya (2010), Văn hóa Chăm nghiên cứu và đối thoại - Tập 1, Nxb Phụ nữ, H.
7. Lã Thị Vân (2011), Truyện kể dân gian dân tộc Chăm ở Việt Nam, Khóa luận Tốt nghiệp, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, H.
8. Nguyễn Thị Thu Vân (2005), Khảo sát truyện cổ dân tộc Chăm, Luận án Tiễn sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, TpHCM
9. Hội VNDGVN, Viện NCVH, Sở VHTT Quảng Ngãi, Hội VHNT Kiên Giang (2008), Văn hóa biển miền Trung và văn hóa biển Tây Nam bộ, Nxb Từ điển Bách khoa, H.


[1] Nguyễn Tuấn Triết (2000), Lịch sử phát triển các tộc người Mã Lai - Đa Đảo, Nxb Khoa học Xã hội, TpHCM, tr.45
[2] Nguyễn Tuấn Triết, Sđd, tr.45
[3] Inrasara (2011), Văn học Chăm - Khái luận, Nxb Tri thức, tr.51,52
[4] Georges Condominas (1997), Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Nxb Văn hóa, Tp Hồ Chí Minh, tr.13
[5] Georges Condominas, Sđd, tr.16
[6] Phạm Đức Dương (2000), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, Nxb Khoa học Xã hội, H, tr.134
[7] Inrasara (2014), Biển trong văn chương Chăm, Tiasang.com.vn
[8] Trần Quốc Vượng (1996), Theo dòng lịch sử - Những vùng đất, thần và tam thức người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, H, tr.536.

  Thông tin chi tiết
Tên file:
“BIỂN” qua góc nhìn không gian xã hội trong truyện cổ tích Chăm - Đặng Thế Anh
Phiên bản:
N/A
Tác giả:
Đặng Thế Anh
Website hỗ trợ:
N/A
Thuộc chủ đề:
Bài viết - nghiên cứu
Gửi lên:
05/03/2015 02:21
Cập nhật:
19/03/2015 05:23
Người gửi:
admin
Thông tin bản quyền:
N/A
Dung lượng:
505.50 KB
Xem:
1750
Tải về:
16
  Tải về
Từ site Trường CĐSP Lạng Sơn:
   Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?
Hãy click vào hình sao để đánh giá File

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Tuyển sinh 2021
Tuyển sinh 2021

Sứ mạng

Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn đào tạo, bồi dưỡng và liên kết đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, các ngành kinh tế - kỹ thuật, khoa học tự nhiên - xã hội và nhân văn, văn hóa - nghệ thuật trình độ cử nhân; là cơ sở nghiên cứu, ứng dụng khoa học giáo dục; cung ứng nguồn nhân lực đáp ứng...

Lý lịch khoa học
Lý lịch khoa học
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Array
(
    [type] => 2
    [message] => file_put_contents(/14-04-2026_e4baeb226356bfcb942719a3c6cab64f.log): failed to open stream: Permission denied
    [file] => /var/www/nvlce2016/vendor/vinades/nukeviet/Core/Error.php
    [line] => 593
)