Tuyển sinh 2021
Tuyển sinh 2021

Hướng đổi mới chương trình và dạy học Ngữ Văn địa phương trung học cơ sở tỉnh Lạng Sơn - Phùng Quý Sơn

Thực hiện Nghị quyết số 40/2000/NQ - QH10 của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, từ năm học 2002 - 2003, ngành Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn đã triển khai chương trình và sách giáo khoa mới bắt đầu từ lớp 1 và lớp 6. Cũng từ năm học này, phần Ngữ văn địa phương (NVĐP) tỉnh Lạng Sơn trong chương trình Ngữ văn mới cấp Trung học cơ sở (THCS) được ngành chỉ đạo biên soạn, dạy thí điểm ở lớp 6 trước khi triển khai đại trà đối với các khối lớp. Năm học 2004 - 2005, chương trình cơ bản hoàn thiện và thực hiện đến nay. So với nhiều địa phương, việc triển khai chương trình NVĐP tương đối sớm và đồng bộ. Bởi, bên cạnh bộ sách giáo khoa, sách giáo viên được tổ chức biên soạn theo một quy trình khoa học như: thí điểm ở một khối lớp, rút kinh nghiệm, biên soạn lại, áp dụng trên diện rộng… thì từ năm học 2008 - 2009, với sự hỗ trợ của Dự án Việt - Bỉ thuộc Bộ GD&ĐT, ba bộ giáo trình: Ngữ văn, Lịch Sử, Địa lý tỉnh Lạng Sơn đào tạo giáo viên ngữ văn THCS của trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn được Bộ GD&ĐT phê duyệt, ban hành đã bổ sung nguồn tư liệu, phương pháp dạy học hữu ích đối với phần giáo dục địa phương nói chung và NVĐP nói riêng. Song, sau hơn 10 năm thực hiện, việc dạy học nội dung NVĐP ở trường THCS trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn cần được nhìn nhận lại để tiếp tục có những định hướng phù hợp trước đòi hỏi đổi mới chương trình, phương pháp dạy học bậc phổ thông trong giai đoạn mới.
1. Đổi mới chương trình, dạy học NVĐP - yêu cầu từ lí luận và thực tiễn
Một số nguyên tắc có ý nghĩa căn cốt trong việc biên soạn nội dung sách giáo khoa đối với các nhà giáo dục là phải đảm bảo tính khoa học, sư phạm, giáo dục. Trường hợp NVĐP, ngữ liệu cần phong phú, có tính đại diện của mỗi vùng miền, điển hình về mặt văn hóa, nghệ thuật, đồng thời thể hiện được tính tích hợp theo đặc trưng bộ môn, đổi mới phương pháp dạy học, phát triển năng lực người học.
Về mục tiêu, nội dung chương trình NVĐP cần kết hợp chặt chẽ những kiến thức học sinh đã học với những hiểu biết về đời sống văn hóa quê hương. Bổ sung, phát huy vốn hiểu biết về văn hóa, văn học, ngôn ngữ địa phương, làm phong phú thêm cho chương trình chính khóa; gắn kết kiến thức trong nhà trường với đời sống cộng đồng. Từ đó, giúp học sinh hiểu biết và hòa nhập hơn với môi trường mình đang sống, có ý thức tìm hiểu, góp phần gìn giữ và bảo vệ các giá trị văn hóa của quê hương, giáo dục các em tình yêu quê hương, xứ sở, đất nước mình.
Chương trình NVĐP Lạng Sơn ở THCS gồm 20 tiết, phân phối đều mỗi khối lớp 5 tiết, được phân bố gồm Văn học (6 tiết), Tiếng Việt (7 tiết), Tập làm văn (7 tiết). Cấu trúc chương trình đảm bảo tính cân đối giữa các phần Văn học - Tiếng Việt - Tập làm văn. Đơn vị bài học đã phần nào đáp ứng được yêu cầu tích hợp của quan điểm đổi mới phương pháp dạy học đặt ra, có sự gắn kết nhất định với các nội dung chương trình chính khóa, lấy văn bản làm cơ sở vừa dùng để đọc - hiểu văn bản vừa dùng làm ngữ liệu, dẫn chứng cho giờ Tiếng Việt. Văn bản có thể là một truyện cổ, bài thơ hoàn chỉnh hoặc là trích đoạn một bài ca dao, bài báo tiêu biểu. Tất cả đều được sắp xếp theo hệ thống về tiến trình thời gian, thể tài, chủ đề… Tuy nhiên, nội dung kiến thức tích hợp với chương trình chính khóa chưa đồng đều ở từng lớp. Cụ thể, tác phẩm văn vần ít, không có thơ Trung đại, trong khi đó, học sinh lớp 7 đang học về văn học Trung đại. Trường hợp này có thể bổ sung bài thơ của Ngô Thì Sỹ được khắc trên vách đá động Nhị Thanh. Phần Tiếng Việt, sự cân đối giữa kiến thức với thời lượng chưa thật hợp lí, nên tập trung rèn kỹ năng chính tả cho học sinh để khắc phục lỗi viết chữ, phát âm địa phương Lạng Sơn. Rèn luyện chính tả trong một tiết lượng kiến thức ít mà lại chia thành nhiều tiết. Nên thêm lượng kiến thức vào mỗi tiết thì phù hợp hơn. Ví dụ: Lớp 7 gộp nội dung 3 tiết thành 2 tiết… Mặt khác, chương trình NVĐP cấp THCS hạn chế tính liên thông, phát triển trên cơ sở chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học.
Thực tiễn tổ chức dạy học chương trình của các nhà trường và giáo viên cũng khá đa dạng, linh hoạt tùy tình hình thực tiễn về môi trường và nguồn học liệu: thực hiện theo thời lượng phân phối chương trình hoặc kết hợp ngoại khóa theo chủ đề, chủ điểm. Song, ngoài ngữ liệu được cung cấp trong sách giáo khoa và sách giáo viên thì nguồn tư liệu hỗ trợ dạy học cũng như ngoại khóa còn thiếu, chưa được tập hợp, giới thiệu một cách hệ thống. Đối với những trường thuộc vùng cao, vùng sâu, việc tiếp xúc với tư liệu, nhà văn, nhà thơ, nhân chứng lịch sử, thăm quan các địa danh văn hóa, lịch sử… của giáo viên và học sinh rất khó khăn. Bên cạnh đó, một số giáo viên người Kinh gặp trở ngại không nhỏ bởi “rào cản ngôn ngữ” trong dạy học nội dung ngôn ngữ địa phương cho học sinh dân tộc thiểu số.
          So với giai đoạn trước năm 2002, chương trình NVĐP cấp THCS hiện nay nói chung đã được Bộ Giáo dục Đào tạo và các địa phương quan tâm, trở thành một bộ phận cấu thành hữu cơ được tích hợp trong ngữ liệu dạy học văn học, tiếng Việt, làm văn. Tuy nhiên, từ định hướng mở của ngành: “Phần văn học địa phương, nếu chưa hoặc không có văn bản đáp ứng, có thể sử dụng cho hoạt động ngoại khóa, thăm quan quê nhà văn hoặc gặp gỡ các văn nghệ sĩ ở địa phương, gặp gỡ Hội Văn nghệ…” (1) vô hình chung lại tạo nên cảnh tượng “muôn hoa đua sắc” hoặc “từng bước thể nghiệm”... Do thế, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và xây dựng, phát triển văn hoá con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, cũng như nhiều địa phương, phần NVĐP tỉnh Lạng Sơn cấp THCS cần tiếp tục đổi mới về chương trình, giải pháp tổ chức dạy học, quản lý… để NVĐP thực sự phát huy được ưu thế và đặc trưng của nó trong tiễn giáo dục hiện đại.
2. Chương trình, dạy học NVĐP Lạng Sơn cấp THCS và hướng đổi mới
Đổi mới chương trình là mắt xích quan trọng trong nhiều nội dung đảm bảo cho sự thành bại của công cuộc đổi mới giáo dục. Nghị quyết số 29-NQ/TƯ - Hội nghị 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đặc biệt coi trọng đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Bộ GD&ĐT đang chủ trì xây dựng Đề án Đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015. Quan điểm chương trình mới được xác định là cần phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại... Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số” (2). Chương trình NVĐP Lạng Sơn phải từng bước phù hợp và cụ thể hóa quan điểm, mục tiêu giáo dục này, đồng thời đáp ứng đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người học, không tùy tiện cắt xén những nội dung bắt buộc, mềm dẻo phần dành cho địa phương nhưng không phá vỡ những nguyên tắc khoa học, giáo dục, sư phạm…
Nội dung chương trình NVĐP Lạng Sơn cấp THCS cần phải tích hợp với các nội dung của chương trình Ngữ văn chính khóa. Căn cứ từ yêu cầu kiến thức, kỹ năng chương trình chính khóa để chọn lựa các ngữ liệu văn học địa phương tương ứng và tích hợp kiến thức của ba phần Văn học - Tiếng Việt - Tập làm văn trong từng giờ học, bài học, khối lớp. Ví dụ: đối với NVĐP lớp 6 có thể lựa chọn văn bản là một truyện kể dân gian thay văn bản Vành tai cụt và người thủ lĩnh nghĩa quân để tương ứng với các thể loại văn xuôi dân gian mà học sinh đang được tìm hiểu ở chương trình chính khóa. Ngữ liệu này sẽ phát huy hơn tính tích hợp giữa các phân môn, tạo nên sự liên kết với giờ Tập làm văn (Kể chuyện dân gian địa phương) và giờ Tiếng Việt (Rèn luyện chính tả). Khắc phục được giờ Rèn luyện chính tả với một số bài tập độc lập. Tương tự như vậy, có thể bổ sung một văn bản văn học Trung đại tiêu biểu về đề tài thiên nhiên, con người Xứ Lạng của một số tác giả như Nguyễn Du, Nguyễn Tông Khuê, Ngô Thì Sỹ…vào chương trình NVĐP lớp 7. Học sinh tiếp xúc với nguồn ngữ liệu mới, phong phú hơn, thay thế văn bản Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh của Lí Bạch được lựa chọn thực hành trong giờ Rèn luyện chính tả (trí nhớ). Với hướng điều chỉnh chương trình như vậy, khi tổ chức dạy học, giáo viên cần nghiên cứu để giảm tải một số hoạt động, tránh lặp lại những kiến thức, kỹ năng người học đã có.
Những ngữ liệu đưa vào chương trình phải phù hợp với mục tiêu giáo dục của cấp học, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi. Nội dung các văn bản gần gũi với đời sống, lời ăn, tiếng nói đồng bào địa phương, có giá trị thực sự về tư tưởng văn hóa và nghệ thuật, được lựa chọn từ trong di sản văn hóa phi vật thể “gieo trồng” suốt ngàn năm lịch sử giao thoa giữa các tộc người cư trú trên mảnh đất Xứ Lạng. Đó là các truyện kể, ca dao, dân ca trong kho tàng folklore, trích đoạn truyện kể về lịch sử hoặc các danh nhân như Hoàng Văn Thụ, Lương Văn Tri, Hoàng Đình Kinh, Trần Đăng Ninh… của các tác giả Nguyễn Trường Thanh, Nguyễn Quang Huynh, Vi Thị Kim Bình… Những kiến thức chứa đựng niềm kiêu hãnh, tự hào về lịch sử, văn hóa quê hương, chứa đựng tư tưởng nhân ái, lòng bao dung, hướng thiện giúp con người sống cao đẹp hơn, trong sáng hơn với những tình cảm và hành động cao quý. Từ bản thân ngữ liệu đã kích thích nhu cầu tìm hiểu, khám phá và tư duy sáng tạo của học sinh, biến quá trình từ nhận thức đến tự nhận thức.
Đương nhiên, do phân phối chương trình ấn định số tiết dành cho NVĐP nên ngữ liệu cũng sẽ giới hạn. Vì vậy, một phần ngữ liệu có thể giới thiệu, hướng dẫn học sinh tìm hiểu trong phần Đọc thêm qua hệ thống câu hỏi, bài tập để học sinh có thể tự học ngoài giờ trên lớp, khắc phục được thực tế chưa có tài liệu phục vụ dạy học. Giáo viên và học sinh cũng thuận lợi hơn trong tổ chức, thực hiện các hoạt động dạy học giờ trên lớp, nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn, phát triển khả năng tự học bằng nhiều hình thức: cá nhân, nhóm, ngoài lớp học…
Để phát triển năng lực người học, người biên soạn chương trình cũng như giáo viên giảng dạy cần thiết kế được hệ thống câu hỏi, bài tập khoa học, phong phú đối với mỗi bài học. Hệ thống câu hỏi, bài tập giúp học sinh biết cách đọc văn bản: giải mã và kiến tạo ý nghĩa, đặt văn bản trong mối quan hệ đa chiều với thế giới được thể hiện trong đó, với phương thức thể hiện, với nhà văn, và với người đọc. Không phải gợi ý, dẫn dắt người học đi đến cách hiểu theo cách áp đặt mà nhiều nhà sư phạm thường làm. Ở cấp THCS, câu hỏi vận dụng sáng tạo nên được sử dụng nhiều hơn như: cảm nhận, suy nghĩ về tư tưởng nội dung, nghệ thuật của văn bản. Ví dụ, câu hỏi tìm hiểu đoạn thơ sau: Phục thù chí lớn không hề nản/Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành/Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm/Chí còn theo dõi buổi tung hoành (Nhắn bạn - Hoàng Văn Thụ) - Cảm xúc của em như thế nào khi đọc đoạn thơ trên? Biện pháp đối ở câu 5- 6 có tác dụng gì trong việc thể hiện hình ảnh người chiến sĩ cộng sản? Hoặc so sánh bản sắc văn hóa, ngôn ngữ… giữa các tộc người trên cùng địa bàn Lạng Sơn hay với các vùng miền khác qua những ngữ liệu cụ thể. Ví dụ: Em hãy so sánh để thấy sự tương đồng, khác biệt trong cách xưng hô của người Nùng với người Kinh qua bài viết Những kiêng kị trong xưng hô ở người Nùng (NVĐP lớp 8)… Cách biên soạn chương trình và tổ chức dạy học như thế sẽ giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường ứng dụng và phát triển toàn diện các kỹ năng đọc, viết, nói, nghe theo lý thuyết kiến tạo (Constructivism Theory) đang rất thịnh hành trong giáo dục.
Dạy học Ngữ văn nói chung, đặc biệt là NVĐP rất phù hợp với cách tổ chức và mở rộng không gian. NVĐP tỉnh Lạng Sơn cấp THCS dành 3 tiết cho hoạt động sưu tầm văn học, 3 tiết giới thiệu thắng cảnh, di tích lịch sử, 2 tiết luyện tập về từ ngữ địa phương (tỷ lệ 40% tổng thể chương trình). Với những tiết học này, học sinh không chỉ học trong lớp mà còn ở bên ngoài lớp học: thư viện, nhà bảo tàng, khu triển lãm, địa danh văn hóa lịch sử, khu dân cư ... Giáo viên có thể cho học sinh đi thăm quan, dã ngoại, yêu cầu các em thực hành ngôn ngữ, ghi chép, chụp hình, quay phim… những gì quan sát, trải nghiệm và viết bản báo cáo, thuyết minh, trao đổi thảo luận theo cặp, nhóm, tổ chức ngoại khóa theo chủ đề, chủ điểm..., hình thành môi trường học tập tương tác, giúp các em phát triển các kĩ năng giao tiếp, khả năng làm việc theo nhóm.
Một giải pháp khả thủ khác, theo chúng tôi, ngoài sách giáo khoa, ngành Giáo dục và Đào tạo Lạng Sơn có thể chỉ đạo biên soạn một bộ tài liệu tích hợp gồm nội dung kiến thức cơ bản về ngữ văn, lịch sử, địa lý địa phương dùng chung cho 3 bộ môn nhằm tránh sự trùng lắp nội dung, học sinh dễ liên hệ, kết nối các mảng kiến thức. Hoặc tập hợp các phóng sự, phim tư liệu về văn hóa, lịch sử, con người Lạng Sơn từ nhiều nguồn khác nhau thành một bộ đĩa CD, chuyển giao cho các nhà trường. Như thế, tài liệu học tập gọn nhẹ, thống nhất trong toàn tỉnh, vừa hạn chế khoảng cách về trình độ của học sinh giữa các khu vực, vừa thuận tiện cho giáo viên trong tổ chức dạy học. Đồng thời đòi hỏi giáo viên phải tích cực ứng dụng công nghệ thông tin qua việc chọn lọc, biên tập các thước phim sống động phục vụ bài giảng, tạo cho học sinh hứng thú tiếp nhận, sưu tầm, thực hành văn học và ngôn ngữ. Từ đó, các em thêm yêu quý, trân trọng, tự hào, mong muốn gìn giữ, phát huy nét đẹp truyền thống văn hóa quê hương, dân tộc.
            Kiểm tra, đánh giá là một phần của quá trình dạy học. Việc cải tiến chương trình, đổi mới dạy học NVĐP Lạng Sơn gắn liền với đổi mới kiểm tra, đánh giá, làm sao đảm bảo nguyên tắc chung và theo đặc trưng nội dung. Muốn vậy, giáo viên phải kết hợp nhiều hình thức đánh giá khác nhau: đánh giá tự luận hay trắc nghiệm khách quan; đánh giá thường xuyên hay trong quá trình dạy học; đánh giá dựa trên kết quả thảo luận, trình bày trong lớp học hay kết quả sưu tầm, nghiên cứu. Đặc trưng của phần NVĐP là hướng mở, học sinh phải tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu nhiều (xây dựng các hồ sơ dự án) nên giáo viên cần quan tâm đánh giá kết quả thực tế trên cơ sở khuyến khích, động viên người học…. Giáo viên cũng cần tăng cường, định hướng để học sinh tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau. Những hình thức này giúp học sinh được tham gia trực tiếp vào quá trình đánh giá, nhờ đó các em trở nên tự tin, tự chủ và tích cực hơn trong quá trình học tập và chiếm lĩnh các mục tiêu bài học.
Đổi mới chương trình và dạy học NVĐP Lạng Sơn cấp THCS cần một quá trình, quy trình khoa học, hệ thống theo định hướng phát triển năng lực người học, từng bước phù hợp quan điểm xây dựng nội dung chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau 2015, đáp ứng tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam. Trách nhiệm đó tiếp tục đặt lên vai các nhà quản lý giáo dục, các nhà khoa học, sư phạm địa phương. Chúng tôi góp thêm một cái nhìn chia sẻ qua bài viết này./.

-----------------------------
          (1). Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phân phối chương trình Trung học cơ sở môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009.
(2). Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt NamNghị quyết 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, 2013.
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt NamNghị quyết 33-NQ/TƯ Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, 2014.
2. Lê Thị Phượng, Giải pháp nâng cao chất lượng nội dung chương trình NVĐP Thanh Hóa cấp THCSTạp chí Giáo dục số 334 (kỳ 2/2014).
3. Phùng Quý Sơn - Nguyễn Ngọc Thanh, Văn hóa, văn học và ngôn ngữ địa phương tỉnh Lạng Sơn, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 2010
4. Trần Thị Trang - Đặng Thị Phin, Ngữ văn địa phương cấp THCS tỉnh Lạng Sơn, 2009.
 
Abstract
 
The requirements of fundamental innovation, comprehensive education, training and construction, development of culture and people of Vietnam to meet the requirements of sustainable development of the country, as well as many local, Local literature section of Lang Son province at Secondary school level should continue to innovate about curriculum, organizational teaching solutions, management ... Thus, local Philology will actually promote the advantages and c-haracteristics of it, to meet modern educational practice.
-----------------------------
            (Bài đăng Tạp chí Giáo dục số 357, Kì 1 tháng 5/2015)
  Thông tin chi tiết
Tên file:
Hướng đổi mới chương trình và dạy học Ngữ Văn địa phương trung học cơ sở tỉnh Lạng Sơn - Phùng Quý Sơn
Phiên bản:
N/A
Tác giả:
Phùng Quý Sơn
Website hỗ trợ:
N/A
Thuộc chủ đề:
Bài viết - nghiên cứu
Gửi lên:
30/08/2015 21:36
Cập nhật:
31/08/2015 04:44
Người gửi:
admin
Thông tin bản quyền:
N/A
Dung lượng:
70.50 KB
Xem:
2567
Tải về:
24
  Tải về
   Đánh giá
Bạn đánh giá thế nào về file này?
Hãy click vào hình sao để đánh giá File

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Tuyển sinh 2021
Tuyển sinh 2021

Sứ mạng

Trường Cao đẳng Sư phạm Lạng Sơn đào tạo, bồi dưỡng và liên kết đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, các ngành kinh tế - kỹ thuật, khoa học tự nhiên - xã hội và nhân văn, văn hóa - nghệ thuật trình độ cử nhân; là cơ sở nghiên cứu, ứng dụng khoa học giáo dục; cung ứng nguồn nhân lực đáp ứng...

Lý lịch khoa học
Lý lịch khoa học
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
Array
(
    [type] => 2
    [message] => file_put_contents(/14-04-2026_e4baeb226356bfcb942719a3c6cab64f.log): failed to open stream: Permission denied
    [file] => /var/www/nvlce2016/vendor/vinades/nukeviet/Core/Error.php
    [line] => 593
)